Tổng quan về Cây Sói rừng có tên khoa học: Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai. thuộc Họ : Hoa sói (Chloranthaceae).

Cây sói rừng đặc điểm phân bố công dụng và tác dụng trồng cây sói rừng gồm Giống và kỹ thuật nhân giống, Thời vụ trồng, Đất trồng và kỹ thuật làm đất, Mật độ, khoảng cách trồng, Phân bón và kỹ thuật bón phân, Kỹ thuật trồng và chăm sóc....

Jan 27, 2024 - 20:55
 0  4
Tổng quan về Cây Sói rừng có tên khoa học: Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai.  thuộc Họ : Hoa sói (Chloranthaceae).
Cây sói rừng còn nhiều tên gọi khác nhau và có tên khoa học là Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai. thuộc Họ : Hoa sói (Chloranthaceae).
Tổng quan về Cây Sói rừng có tên khoa học: Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai.  thuộc Họ : Hoa sói (Chloranthaceae).
Tổng quan về Cây Sói rừng có tên khoa học: Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai.  thuộc Họ : Hoa sói (Chloranthaceae).

Cây Sói rừng

Tên khoa học:Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai.

Họ: Hoa sói (Chloranthaceae).

Đặc điểm:

Cây Sói rừng là loài cây nhỏ, có chiều cao 1- 2m; thân nhẵn, đốt phồng to, nhánh cây tròn, không lông. Các lá mọc đối, có phiến dài hình bầu dục hay hình ngọn giáo, chiều dài 7- 18cm, rộng 2-7cm với 5 -7 cặp gân bên, cuỗng ngắn khoảng 5- 8mm, mép lá có răng cưa nhọn. Cây ra hoa bắt đầu từ tháng 5 và kéo dài liên tục tới tháng 11. Quả bắt đầu chín vào cuối tháng 8 và thời kì chín của quả kéo dài tới tháng 2 năm sau.Cụm hoa bông kép ở ngọn, các nhánh ngắn. Hoa nhỏ, màu trắng, không có cuống và có một nhị. Bầu nhụy có hình trứng và không có vòi. Quả nhỏ, gần tròn cỡ 4x6 mm, mọng nước, màu đỏ gạch. Mùa hoa vào tháng 6 - 7, mùa quả tháng 8 - 9.

Phân bố:

Cây Sói rừng sinh trưởng phát triển tốt ở nơi có tầng đất dầy, tơi xốp có hàm lượng mùn cao, ít đá lẫn, khả năng giữ nước lớn nhưng thoát nước tốt, có độ ẩm đầy đủ trong suốt thời gian cây sinh trưởng.  Cây Sói rừng phân bố ở nhiều nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam và Malaysia. Ở Việt Nam, cây mọc hoang ở vùng núi đá, bìa rừng và ven đồi ẩm trong tự nhiên nhiều nơi như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình đến Kon Tum, Lâm Đồng.

Cây Sói rừng có chúa 3 hợp chất là Chloranoside A, tertorigenin 7-glucoside và 1β; 3β-Dihydroxylup-20(29)-en có tác dụng điều trị bệnh lý về xương khớp như phong thấp, đau nhức khớp xương và bệnh lý về tiêu hóa. Bột từ lá cây Sói rừng có hoạt tính kháng gốc tự do trên hệ DPPH nên được ứng dụng để điều trị các bệnh lý về viêm và ung thư.

Cây Sói rừng có vị đắng cay, tính hơi ấm, có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khử phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực. Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương khớp.

Hình thái cây Sói rừng

Giống và kỹ thuật nhân giống

Cây Sói rừng có thể nhân giống bằng hom cành  hoặc bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào.

Tiêu chuẩn cây giống:

- Tiêu chuẩn cây giống từ hom cành:

+ Cây có chiều cao 15-20 cm, có từ 5-6 lá.

+ Cây giống sinh trưởng tốt, bộ rễ khỏe, không mang mầm bệnh. Lá xanh và mượt.

+ Tuổi cây giống 3 tháng tuổi (tính từ gieo ươm đến khi xuất vườn).

- Tiêu chuẩn cây giống từ nuôi cấy mô:

+ Cây có chiều cao 15-20 cm, có từ 5-6 lá;

+ Cây giống sinh trưởng tốt, bộ rễ khỏe, không mang mầm bệnh. Lá xanh và mượt;

+ Tuổi cây giống 3 tháng tuổi (tính từ khi cấy cây vào bầu đến khi xuất vườn).

Cây giống từ nuôi cấy mô có chất lượng đồng đều, giữ nguyên được đặc tính của cây mẹ, khả năng chống chịu sâu bệnh cao. Tuy nhiên cây giống này giá thành đắt hơn cây từ củ.

Thời vụ trồng

Sói rừng trồng tốt nhất từ tháng 3 đến tháng 4 hàng năm.

Đất trồng và kỹ thuật làm đất

Đối với cây Sói rừng đất phải được cày ải, dọn sạch cỏ (không sử dụng thuốc diệt cỏ), phơi kỹ đảm bảo tơi xốp và loại bỏ tàn dư bệnh hại cây trồng. Cần được cày sâu từ 20- 30cm. Sau đó kết hợp với bón phân lót gồm: Phân chuồng hoai. Đất phải được lên luống (cao 35-40 cm, rộng 120cm).

Chú ý: Khu vực trồng có hệ thống thoát nước tốt và không đọng nước.

Mật độ, khoảng cách trồng

Cự ly: Cự ly trồng có khoảng cách 1,0 x 1,0m

Mật độ trồng hiện tại: 10.000 cây/ha.- Đất tốt: trồng với mật độ 5.000 cây/ha.

Phân bón và kỹ thuật bón phân

- Bón lót: Bón lót khi làm đất, lượng bón: 5.000kg phân chuồng hoai mục + 150 kg phân vi sinh hữu cơ, trộn đều bón lót theo hố sau đó lấp một lượt đất mỏng lên để trồng cây, tránh phân làm hại rễ.

- Bón thúc: Tổng lượng phân chia làm 3 đợt theo chu kỳ sinh trưởng của cây, vun đất phủ kín phân bón, để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau. Mỗi năm bón 3 lần:

+ Lần 1: Thời kỳ đầu ngay sau trồng từ 2 - 3 tháng. Bón 100kg phân vi sinh hữu cơ.

+ Lần 2: Thời kỳ cây sinh trưởng mạnh (tháng 7- 8). Bón 5.000 kg phân chuồng,  150kg phân vi sinh hữu cơ.

+ Lần 3: Bổ sung nốt lượng phân còn lại vào tháng 11 - 12. Bón 100 kg phân vi sinh hữu cơ.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc

- Kỹ thuật trồng: Sau khi làm đất, cuốc hố thành từng hàng, bón lót phân chuồng hoai mục và phân hữu cơ vi sinh, phủ một lớp đất lấp kín phân, đặt nhẹ cây xuống bên cạnh phân (không trồng trực tiếp lên phân), sau đó lấp kín gốc cây, dùng tay ấn chặt xung quanh gốc.

- Chăm sóc: Thường xuyên làm cỏ, nhất là vào mùa mưa ẩm. Làm cỏ lúc cây mới trồng, hàng năm nên xới xáo, vun gốc từ hai đến ba lần để tạo đọ thoáng cho cây phát triển.

- Tưới nước: Tưới nước cho cây ngay sau khi trồng. Giai đoạn đầu 30 ngày sau khi trồng cần phải được cung cấp nước đầy đủ, tưới 1 lần/ngày đảm bảo độ ẩm (70 - 80%) để cây bén rễ hồi xanh, ra rễ mới. Giữ ẩm cho đất trong suốt thời gian sinh trưởng của cây. Tưới nước sau mỗi đợt bón phân để hòa tan phân, cây dễ hấp thụ phân bón.

Nước tưới nên sư dụng nguồn nước mặt sạch, không bị ô nhiễm.

- Tiêu nước: Cây Sói rừng ưa ẩm, không chịu được ngập úng. Khi bị úng rễ (củ) dễ bị thối. Do đó cần lên luống cao để trồng và phải tiêu nước ngay khi bị úng, bị đọng nước, nhất là thời kỳ cây còn nhỏ.

- Trồng dặm: Để đảm bảo được mật độ trồng, cây sinh trưởng đồng đều thì
những cây chết phải trồng dặm ngay và trồng thường xuyên trong thời kỳ cây còn nhỏ (sau trồng 1-2 tháng).

- Làm cỏ: Làm cỏ trung bình 1 tháng/lần trong 2 tháng đầu để cây có điều kiện phát triên mạnh sau đó số lần làm cỏ giảm dần. Làm cỏ kết hợp với xới, bón phần, vun gốc phủ kín phần cây. Bón phần định kỳ, để kịp thời cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Phòng trừ sâu bệnh

Sói rừng là cây phát triển mạnh, ít sâu bệnh hại, nhưng vẫn phải kiểm tra thường xuyên để phòng trừ kịp thời. Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng; ngắt những lá già, lá bị sâu bệnh, cây bị bệnh và các tàn dư thực vật, thu gom để vào một khu vực sau đó mang đi tiêu hủy. Nếu phát hiện sâu bệnh hại nên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật từ thảo mộc.

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM để quản lý sâu bệnh hại trên ruộng, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt không sử dụng các loại thuốc bị cấm sử dụng cho cây trồng.

Thu hoạch và bảo quản

- Thời vụ thu hoạch: Sau trồng 3 năm ta có thể thu hái toàn cây vào mùa hạ thu, thu hoạch vào những ngày nắng ráo.

- Kỹ thuật thu hoạch:Các dụng cụ và vật tư cần thiết cho việc thu hoạch phải chuẩn bị bao gồm: Dao, dây buộc, xe vận chuyển, bạt lót nền phơi thảo dược, túi nilon, bao tải dứa, dây buộc, nhãn mác hàng hóa. Tất cả các dụng cụ, vật tư sử dụng cho công tác thu hoạch và sơ chế Sói rừng cần phải được làm sạch, không bị rỉ sét, không bị nhiễm bẩn.

- Vận chuyển sản phẩm: Các phương tiện sử dụng để vận chuyển cây Sói rừng từ nơi thu hoạch về địa điểm sơ chế cần được làm sạch trước khi sử dụng.

Không sử dụng các phương tiện chở phân bón, thuốc trừ sâu, gia súc, gia cầm, hóa chất, đất cát và các vật có nguy cơ gây ô nhiễm để chở dược liệu. Trong quá trình bốc xếp dược liệu lên xe chú ý không dẫm lên dược liệu, không lèn chặt, không kết hợp việc vận chuyển dược liệu với các sản phẩm khác.

Vận chuyển đến địa điểm sơ chế phải tháo gỡ ngay dược liệu, không để lâu trên xe dược liệu tươi sẽ dễ thối nhũn do nóng làm giảm chất lượng dược liệu.

- Chế biến:

(1) Loại bỏ tạp chất: sau khi thu về nhặt sạch cỏ dại, các cây tạp, loại bỏ lá bị bệnh, thối mốc để không làm ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị thương phẩm của dược liệu.

(2) Làm sạch: Rửa cây bằng nước sạch 2-3 lần cho hết đất cát. Vớt ra để lên dàn thưa cho ráo nước trước khi đem phơi.

(3) Làm khô: Phơi, sấy.

Phơi ngoài nắng, trên nong nia, lá cót, phên, bạt. Hoặc sấy bằng lò sấy dược liệu chuyên dụng. Trong quá trình phơi, cần rải đều, thường xuyên đảo giữa các lớp để dược liệu khô đều. Phơi nắng liên tục cần 4 - 5 ngày hay sấy ở nhiệt độ ổn định từ 35 - 40oC trong 26 - 30 giờ đến khô, độ ẩm đạt dưới 13%. Trong quá trình phơi sấy phải đảm bảo an toàn, không để xảy ra hiện tượng cháy, nổ.

- Đóng gói và bảo quản:

+ Đóng gói: Sau khi phơi hoặc sấy khô đóng gói dược liệu Sói rừng bằng túi 2 lớp. Bên trong là lớp nilon dày khó rách, bên ngoài là lớp bao gai, sau đó buộc chặt đầu tránh không khí sâm nhập làm ẩm, mất mùi thơm, ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu.

+ Dán nhãn: Trên mỗi bao bì dược liệu cần dán nhãn. Nội dung nhãn bao gồm các thông tin: Tên dược liệu;  Khối lượng;  Địa điểm thu hái; Người lấy;  Địa chỉ;  Ngày lấy/ngày chế biến xong và đóng bao.

+ Bảo quản:

Các bao dược liệu thành phẩm được để trên kệ hoặc ghế, cách mặt đất khoảng 50cm, cách tường 20-30 cm và phải ở trong nhà hoặc nhà kho; đảm bảo khô ráo và thông thoáng.

Nơi bảo quản cần tránh xa nơi chứa hóa chất nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu...)

Không xếp chồng quá nhiều bao dược liệu.

Nơi chứa dược liệu phải được cách ly với gia súc, gia cầm và vật nuôi.

Không sử dụng thuốc diệt chuột, mối mọt trong các kho bảo quản dược liệu.

Kiểm tra kho thường xuyên để phát hiện các yếu tố gây hại cho dược liệu.

Tốt nhất là sau khi đóng bao và dán nhãn cần liên hệ ngay với các đại lý dược liệu để thu mua.

- Ghi chép hồ sơ cà truy xuất nguồn gốc:

+ Ngoài việc ghi nhật ký khai thác, trồng, chăm sóc, thu hoạch và các hoạt động sơ chế hàng ngày cũng cần được ghi chép thành nhật ký.

+ Các hoạt động này cần được ghi vào nhãn hoặc thẻ kho gắn trên các bao, túi dược liệu.

Đọc thêm bài liên quan: Cây Sói rừng, Sói nhẵn (Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai,), Vị thuốc Thũng tiết phong

Files