Kê huyết đằng – Spatholobus harmandii Gagnep

Theo Đông Y Huyết rồng có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ khí huyết, thông kinh lạc, mạnh gân cốt. Dùng chữa huyết hư, kinh bế, di tinh, bạch đới, kinh nguyệt không đều và làm thuốc bổ huyết.

Oct 19, 2020 - 21:52
 0  100
Kê huyết đằng – Spatholobus harmandii Gagnep
Spatholobus harmandii là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu. Loài này được Gagnep. miêu tả khoa học đầu tiên.

Huyết rồng, Kê huyết đằng – Spatholobus harmandii Gagnep., thuộc họ Đậu - Fabaceae.

Tên Khoa học: Spatholobus harmandii Gagnep.

Tên tiếng Anh:

Tên tiếng Việt: Huyết rồng; Kê huyết đằng; mo thùy harmand

Tên khác: Spatholobus compar Craib; S. sinensis Chun & T. Chen;

Mô tả: Dây leo khoẻ dài tới 15m, nhánh hình trụ, có lông mềm, về sau nhẵn. Lá kép 3 lá chét; lá chét dai, hình bầu dục, bóng, 3 lần dài hơn rộng, các lá chét bên so le, dài 7-12cm, rộng cỡ 3cm, tròn ở gốc, nhọn ở đầu, nhẵn; gân bên 9 cặp; cuống lá 5-10cm; lá kèm nhỏ dễ rụng. Hoa thành chuỳ có lông, 10-20cm, cuống hoa nhỏ có lông, 3mm, đài có lông với các thuỳ hình tam giác tù. Tràng hoa màu tía, 10-11mm, cánh cỡ lõm, gần tròn, lườn thẳng, quả đậu hình lưỡi liềm, 7x2 cm, có cánh, có lông nhung. Hạt đơn độc ở ngọn quả.

Huyết rồng, Kê huyết đằng – Spatholobus harmandii Gagnep., thuộc họ Đậu - Fabaceae.

Bộ phận dùng: Thân cây - Caulis Spatholobi; cũng gọi là Kê huyết đằng.

Nơi sống và thu hái: Cây của Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Ở nước ta, thường gặp trong các rừng, dọc theo các sông suối trên đất có cát, tới độ cao 850m, ở các tỉnh phía Nam từ Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé tới Bà Rịa - Vũng Tàu. Thu hái thân dây quanh năm.

Thành phần hóa học: Có glucid, tanin, chất nhựa.

Tính vị, tác dụng: Huyết rồng có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ khí huyết, thông kinh lạc, mạnh gân cốt.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Dùng chữa huyết hư, kinh bế, di tinh, bạch đới, kinh nguyệt không đều và làm thuốc bổ huyết. Ngày dùng 20-40g dạng thuốc sắc, rượu hoặc cao. Cụ Nguyễn An Cư viết như sau: Nước của cây có vị ngọt, tính mát, không độc, dùng chữa đàn ông mất máu, mộng tinh, đàn bà huyết khô, huyết băng, chuyển tư chân âm, bổ ích tỳ thận, làm tăng nước bọt, hết khát nước. Dùng bôi chữa nứt môi, rơ lưỡi.

Ghi chú: ở loài Mật hoa đậu - Spatholobus suberectus Dunn, thân được sử dụng ở Trung quốc với tên Kê huyết đằng, có catechol, dầu dễ hay hơi, đường hoàn nguyên; có vị đắng, ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, thông kinh. Cũng được dùng trị kinh nguyệt không đều (huyết suy sụp trở thành vàng), tê liệt, phong thấp đau nhức.

Cây kê huyết đằng