Trâm bầu, săng kê, chưng bầu, tim bầu, song re có tên khoa học là Combretum qualrangulare

Cây Trâm bầu tên gọi khác như săng kê, chưng bầu, tim bầu, song re... Tên khoa học là Combretum qualrangulare, thuộc họ Bàng Combretaceae. Hạt và rễ đều có tác dụng trị giun; rễ chữa thương và lá làm thuốc giảm đau, cầm ỉa chảy. Nước sắc hạt Trâm bầu có tác dụng trên giun đất và sán lợn.

Jan 15, 2024 - 18:13
 0  6
Trâm bầu, săng kê, chưng bầu, tim bầu, song re có tên khoa học là Combretum qualrangulare
Trâm bầu còn có tên khác là chưn bầu, tim bầu, săng kê, song re (danh pháp hai phần: Combretum quadrangulare Kurz). Tại Việt Nam, cây mọc hoang ở khắp các tỉnh phía nam, nhất là vùng đồng bằng.
Trâm bầu, săng kê, chưng bầu, tim bầu, song re có tên khoa học là Combretum qualrangulare

Đặc điểm của cây trâm bầu

Trâm bầu tên gọi khác như săng kê, chưng bầu, tim bầu, song re... Tên khoa học là Combretum qualrangulare, thuộc họ Bàng Combretaceae. Trâm bầu là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, có chiều cao từ 2 – 10m, một số cây phát triển trong điều kiện lý tưởng có thể cao đến 12m. Thân có nhiều cành ngắn, cành non có 4 cạnh và mép có rìa mỏng.

Lá mọc đối xứng, cuống ngắn, phiến hình trứng dài có gốc thuôn và đầu hơi nhọn, cả 2 mặt lá đều có lông nhưng mặt dưới nhiều hơn. Hoa mọc thành cụm ở nách lá, mỗi cụm có nhiều hoa nhỏ màu vàng. Quả lớn, màu xanh, có 4 cánh mỏng, bên trong chứa nhiều hạt hình thoi.

Bộ phận dùng để làm thuốc chữa bệnh bao gồm lá, rễ và hạt của cây trâm bầu.

Phân bố: Trâm bầu có nguồn gốc từ các nước Đông Dương (Campuchia, Lào và Việt Nam). Cây ưa mọc ở các vùng đất phèn, nước mặn và vùng nước ngọt. Nhân dân thường trồng cây để lấy củi, ít nơi trồng trâm bầu để làm dược liệu.

Thu hoạch – sơ chế: Lá và rễ được thu hái quanh năm. Quả và hạt được thu hái vào tháng 1 – 2 hằng năm. Có thể sử dụng dược liệu tươi hoặc phơi khô để dùng dần.

Bảo quản: Bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh nơi ẩm thấp và có ánh nắng trực tiếp.

Thành phần hóa học: Theo kết quả phân tích, hạt của cây trầm bầu có chứa acid oxalic tự do, oxalate calcium, acid béo, tannin, dầu béo 12%. Ngoài ra khi phân tích acid béo người ta nhận thấy hạt chứa acid linoleic 2.31% và acid palmitic 5.91%.

 Bài thuốc chữa bệnh từ cây Trâm Bầu

Chữa giun kim và giun đũa

Bài 1: Hạt trâm bầu và chuối chín. Đem nướng hạt trầu bầu, kẹp trong chuối chín rồi nhai nuốt. Trẻ em dùng từ 7 – 14g (khoảng 5 – 10 hạt), người lớn dùng 14 – 20g (khoảng 10 – 15 hạt).

Bài 2: Bột nếp 100g, bột từ hạt trâm bầu 50g, lá mơ tán bột 50g. Trộn đều bột từ hạt trâm bầu, bột lá mơ với bột nếp và lượng nước vừa đủ. Sau đó vo bột thành viên và hấp cách thủy cho chín. Mỗi sáng sau khi thức dậy, ăn một lượng vừa phải đồng thời không ăn thêm thực phẩm khác cho đến trưa. Áp dụng bài thuốc liên tục trong 4 – 5 ngày.

Trà trâm bầu giúp nhuận gan:

Hạt trâm bầu 20 – 30g dùng nấu nước uống và dùng như trà trong ngày.

Chữa nước ăn chân:

Dùng 100g lá trâm bầu, 100g lá phèn đen, 100g lá móng tay, 100g lá bạch hạ giã nhuyễn rồi ngâm cùng 100ml rượu trắng.

Sau đó dùng nước rượu ngâm này bôi lên chỗ ăn chân ngày 2 – 3 lần sẽ rất nhanh khỏi. Khi dùng không hết bạn có thể đậy kín nắp chai rượu ngâm và để dùng dần.

Trị xơ gan cổ trướng:

Lá cối xay, lá trâm bầu, vỏ cây vọng cách và vỏ cây quao nước mỗi thứ 50g, quả dứa dại và thân cây ráy gai mỗi thứ 200g. Sắc uống, ngày dùng 1 thang trong 7-10 ngày hỗ trợ điều trị xơ gan cổ trướng.

Nước sắc từ hạt trâm bầu còn có tác dụng trên giun đất và sán lợn, ngày sắc uống 50g, trong 7- 15 ngày. Ngoài ra, còn có thể dùng 100g rễ trâm bầu giã nát đắp lên vết thương giúp giảm đau và uống 50g nước sắc rễ trâm bầu cầm tiêu chảy.

Trâm bầu còn có tên khác là chưn bầu, tim bầu, săng kê, song re (danh pháp hai phần: Combretum quadrangulare Kurz). Tại Việt Nam, cây mọc hoang ở khắp các tỉnh phía nam, nhất là vùng đồng bằng.

Lưu ý khi sử dụng cây trâm bầu làm thuốc

  • Phụ nữ mang thai và đang cho con bú không nên dùng các bài thuốc từ trâm bầu.
  • Không nên dùng các bài thuốc trâm bầu kết hợp với các bài thuốc tây chữa tăng men gan, thuốc lợi tiểu, thuốc trị giun khác.
  • Trong thành phần hạt trâm bầu có chất oxalate calcium gây nấc cụt sau khi uống. Phản ứng này sẽ tự hết mà không cần chữa trị.
  • Trong dân gian còn có cây bạc thau, là loại thân dây leo cũng được gọi là cây trâm bầu. Loài này có hoa màu tím hồng, thường trồng làm cảnh. Trước khi dùng bạn nên hết sức lưu ý tránh nhầm lẫn giữa hai loài thực vật.
  • Cây trâm bầu là một loài thực vật có tác dụng trị bệnh, trị giun, khi sử dụng bạn nên có sự tư vấn của thầy thuốc, bác sĩ chuyên ngành.

Tải về các tài liệu nghiên cứu cây thuốc TRÂM BẦU dưới đây:

  1. Khả năng kháng một số loài vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản của dịch trích từ lá và hạt cây trâm bầu (Combretum quadrangulare) trong điều kiện in vitro
  2. Khảo sát hoạt tính gây độc tế bào ung thư của các cao chiết cây Trâm Bầu Combretum quadrangulare Kurz
  3. ....

Files